Một con nái đẻ rất tốt ở lứa đầu nhưng sang lứa hai lại giảm số con. Điều này có đồng nghĩa với việc năng suất của nó đang có vấn đề?
Hai nghiên cứu gần đây trên đàn nái Landrace × Yorkshire thương mại tại Thái Lan và Việt Nam cho thấy câu trả lời không đơn giản như vậy. Đặc biệt, với những nái có năng suất rất cao ở lứa đầu, việc chỉ so sánh số con giữa lứa một và lứa hai có thể khiến người chăn nuôi đánh giá sai tiềm năng của nái.
Vì sao Landrace × Yorkshire thường được dùng làm nái mẹ?
Landrace và Yorkshire đều là các dòng mẹ được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi heo thương mại. Khi lai hai dòng này, nhà sản xuất không chỉ kết hợp các đặc tính sinh sản của hai dòng mà còn tận dụng ưu thế lai ở nái F1, thể hiện qua các chỉ tiêu sinh sản như số con sơ sinh sống và số con cai sữa.
Nói cách khác, đây là những con nái được kỳ vọng có khả năng sinh sản và nuôi con tốt.
Nhưng chính năng suất cao ở lứa đầu lại có thể tạo ra một cái bẫy khi đánh giá lứa hai.
Lứa hai giảm chưa chắc là lứa hai kém
Một nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Chulalongkorn, công bố trên Theriogenology năm 2026, phân tích 41.288 ổ đẻ của 11.301 nái Danish Landrace × Yorkshire trong một trại thương mại ở miền tây Thái Lan.
Trung bình, đàn nái này đạt 16,5 con tổng số sinh và 14,6 con sơ sinh sống mỗi ổ. Đáng chú ý, số con sinh ra mỗi lứa tăng từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ thứ ba, đạt 17,7 con ở lứa ba.
Như vậy, ít nhất trong quần thể nái được nghiên cứu, lứa đầu chưa phải thời điểm thể hiện năng suất sinh sản cao nhất.
Các nhà nghiên cứu sau đó chia nái theo số con tổng số sinh ở lứa đầu thành ba nhóm: 7–13 con, 14–19 con và từ 20 con trở lên.
Kết quả xuất hiện một nghịch lý khá thú vị.
Ở nhóm nái đẻ từ 20 con trở lên trong lứa đầu, 58,4% có số heo con sinh ra ở lứa hai thấp hơn lứa đầu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những nái này đẻ ít con ở lứa hai. Chỉ 6% trong nhóm này sinh từ 13 con trở xuống ở lứa hai.
Ngược lại, ở những nái chỉ sinh 7–13 con trong lứa đầu, chỉ 8,8% có số con ở lứa hai giảm. Nhưng 16,5% vẫn chỉ sinh từ 13 con trở xuống ở lứa hai.
Nói cách khác, nái đẻ nhiều con ở lứa đầu dễ bị giảm số con ở lứa hai hơn, nhưng ngay cả khi giảm, số con chúng sinh ra ở lứa hai thường vẫn cao.
Nghiên cứu còn ghi nhận rằng mỗi khi số con tổng số sinh ở lứa đầu tăng thêm một con, số con ở lứa hai tăng trung bình 0,35 con.
Nói cách khác, số con ở lứa hai giảm so với lứa đầu không có nghĩa là nái đẻ ít con.
Một nái từ 20 con ở lứa đầu xuống 17 con ở lứa hai đã giảm ba con. Trong khi một nái từ 10 lên 11 con lại được xem là tăng. Nhưng xét về năng suất tuyệt đối ở lứa hai, 17 con rõ ràng vẫn là một kết quả rất khác với 11 con.

Dữ liệu tại Việt Nam cho thấy điều gì?
Một nghiên cứu khác được công bố trên Tropical Animal Science Journal phân tích hồ sơ của 3.957 nái Landrace × Yorkshire tại một trại thương mại khoảng 5.000 nái ở miền Trung Việt Nam.
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa hơi khác với nghiên cứu tại Thái Lan. Một nái được xếp vào nhóm mắc hội chứng lứa hai, (hay còn gọi tắt là SLS), nếu số con sơ sinh sống ở lứa hai bằng hoặc thấp hơn lứa đầu.
Theo định nghĩa đó, 56,8% số nái trong nghiên cứu được xếp vào nhóm SLS. Số con sơ sinh sống trung bình là 12,7 con ở cả lứa một và lứa hai.
Một kết quả đáng chú ý xuất hiện khi các nhà nghiên cứu xem xét số con nái phải nuôi đến cai sữa trong lứa đầu.
Tỷ lệ SLS tăng từ 42,7% ở nái cai sữa dưới 11 con lên 51,7% khi cai 11 con, 56,8% với 12 con, 59,5% với 13 con và 68,4% ở nhóm cai 14–19 con.
Trong mô hình không đưa số con sơ sinh sống ở lứa đầu vào phân tích, nái cai 14–19 con có odds gặp SLS cao gấp 3,1 lần nhóm cai dưới 11 con.
Trọng lượng cả ổ lúc cai sữa cũng cho thấy một xu hướng tương tự trong phân tích đơn biến: tỷ lệ SLS tăng từ 44,4% ở nhóm có trọng lượng ổ cai sữa dưới 70 kg lên 65,2% ở nhóm trên 100 kg.
Các tác giả thảo luận rằng việc nuôi nhiều heo con hơn trong lứa đầu có thể làm tăng nhu cầu sinh lý của nái trong giai đoạn tiết sữa. Tuy nhiên, nghiên cứu không đo lượng thức ăn thu nhận của từng nái, thay đổi trọng lượng cơ thể, độ dày mỡ lưng hay thể trạng trong thời gian nuôi con. Vì vậy, những số liệu này cho thấy mối liên quan, chứ chưa chứng minh được cơ chế khiến năng suất lứa hai giảm.

Đừng để một lứa đầu quá tốt đánh lừa cách nhìn về lứa hai
Hai nghiên cứu không sử dụng cùng một định nghĩa về hội chứng lứa hai. Nghiên cứu tại Thái Lan sử dụng số con tổng số sinh và xem xét sự giảm sút từ lứa đầu sang lứa hai, trong khi nghiên cứu tại Việt Nam định nghĩa SLS dựa trên số con sơ sinh sống ở lứa hai bằng hoặc thấp hơn lứa đầu. Vì vậy, tỷ lệ 34,9% trong nghiên cứu Thái Lan và 56,8% trong nghiên cứu Việt Nam không nên được đem ra so sánh trực tiếp.
Nhưng đặt hai bộ dữ liệu cạnh nhau lại cho thấy một điều đáng chú ý.
Năng suất rất cao ở lứa đầu tự nó tạo ra một mức chuẩn rất cao cho lứa hai.
Một con nái có thể giảm số con so với thành tích xuất sắc ở lứa đầu nhưng vẫn cho một lứa hai có năng suất tốt. Ngược lại, một con nái không giảm so với lứa đầu chưa chắc đã có năng suất cao.
Dữ liệu Thái Lan còn cho thấy năng suất của đàn nái Landrace × Yorkshire này tiếp tục tăng sau lứa đầu và đạt đỉnh ở lứa ba. Vì vậy, đánh giá tiềm năng của một con nái chỉ dựa vào việc lứa hai có thấp hơn lứa đầu hay không có thể bỏ qua một phần quan trọng trong khả năng sinh sản của nó.
Khi xem xét giữ lại hay loại thải nái sau lứa hai, câu hỏi vì thế không chỉ nên là:
“Nó có giảm so với lứa đầu không?”
Mà còn phải hỏi:
“Lứa hai thực sự đạt bao nhiêu con, và con nái này đang thể hiện năng suất như thế nào so với tiềm năng của chính nó?”
Nghiên cứu tham khảo
Fusapniran P. và cộng sự. Reproductive performance, removal patterns, and retention of gilts with different first-litter size in hyperprolific Danish Landrace × Yorkshire sows under tropical conditions. Theriogenology, 2026.
Nam N.H. và cộng sự. Risk Factors for Second Litter Syndrome in Landrace × Yorkshire Sows in Tropical Conditions. Tropical Animal Science Journal, 2026.

Leave a comment